Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010

Album tem (Stamp album - Album pour timbres poste)

Loại album dùng để cài tem nhằm bảo vệ tem không bị hư hỏng theo thời gian. Album tem luôn giữ cho tem thẳng, không bị gãy gập, quăn góc và bay màu.

Các loại vật phẩm phong bì

Trong ngày chính thức phát hành tem đầu tiên, dùng bì thư kỷ niệm hoặc bì thư thường, có dán một, nhiều hoặc cả bộ tem mới và đóng dấu huỷ là dấu kỷ niệm hoặc dấu thường và gửi trên mạng bưu chính thì gọi là bì ngày đầu tiên thực gửi, nếu không gửi trên mạng bưu chính thì gọi là bì ngày đầu tiên huỷ tem. Nghĩa rộng của bì ngày đầu tiên là bì thư có dấu ngày đầu tiên.

FDC thực gởi bộ tem " Nhã nhạc cung đình Huế " do CLB Viet Stamp thiết kế có chữ ký của họa sĩ thiết kế bộ tem Hoàng Thúy Liệu

Hiện nay, Công ty tem mỗi khi phát hành tem mới đều bán bì ngày đầu tiên chuyên thiết kế để người chơi tem sưu tập. Loại bì thư này bên trái in hình vẽ liên quan với tem mới phát hành, góc phải trên dán tem mới phát hành và đóng dấu, mặt sau có chữ thuyết minh. Bì ngày đầu tiên được người chơi tem hoan nghênh vì biết được ý nghĩa của tem phát hành nghiên cứu và tăng thêm hiểu biết đều rất có ích. Đồng thời bì ngày đầu tiên là tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử bưu chính và lịch sử con tem. Công ty tem phát hành bì ngày đầu tiên có đóng dấu kỷ niệm huỷ tem trước, có thể gửi đi ngày đầu ở tại nơi con tem phát hành, nhưng nếu không phải là ngày đầu hoặc ngày đầu nhưng ở ngoài địa phương phát hành thì muốn gửi đi phải dán tem mới.

Sưu tập bì thư ngày đầu tiên là một hoạt động chơi tem rất hứng thú rất thịnh hành trên quốc tế. Ngành bưu chính và Công ty chơi tem của các nước đều phát hành bì ngày đầu tiên. Theo thống kế năm 1980, ở Mỹ có khoảng 55 vạn người sưu tập bì ngày đầu tiên và thành lập Hội người sưu tập F.D.C. Năm 1979 ở thành phố Cheyenne thủ phủ bang Wyoning còn thành lập một Bảo tàng bì thư F.D.C. Những năm gần đây người chơi tem sưu tập bì F.D.C ngày thêm nhiều.

Bì ngày cuối (Last Day Conver, L.D.C): Một loại tem nào đó đến ngày sử dụng cuối cùng, nếu dán một hoặc cả bộ tem và đóng dấu bưu chính gửi đi hoặc không gửi thì gọi là bì ngày cuối cùng. Từ đó dẫn đến ngày cuối cùng của một sự kiện, nếu dán một tem có liên quan hoặc tem nào đó đang sử dụng, hoặc đóng dấu thu cước và dấu ngày bưu chính, gửi đi hoặc không gửi đi thì đó cũng là bì thư ngày cuối cùng.

Bì thư ngày bán cuối cùng ( Last day of Sale)

Bì ngày đầu và ngày cuối (First Day and Last Day Cover): Nhân ngày lễ hoặc sự kiện quan trọng, cuộc hội nghị hoặc triển lãm có thể làm bì thư ngày đầu và ngày cuối, trên cùng một bì thư đóng 2 dấu ngày khác nhau trong cùng một ngày thì đó là bì ngày đầu và ngày cuối.

Gần đây dấy lên bì thư đón xuân (còn gọi là bì tống cựu nghinh tân, đó cũng là bì ngày đầu và ngày cuối. Đó là cách dùng tem con vật tượng trưng năm và đóng dấu ngày cuối năm cũ (âm lịch) rồi hôm sau lại dán tem và đóng dấu ngày đầu năm mới (âm lịch).

Bì thư giao thừa thực gởi "Tống Chuột nghinh Trâu" do CLB Viet Stamp thiết kế

Card Maximum là gì ?

Maximum Postcard còn gọi là bưu thiếp cực đại, cũng gọi là bưu thiếp tương tự, dùng tem đang thời hạn phát hành dán trên mặt hình ảnh của bưu thiếp và hình ảnh của con tem tương đồng hoặc tương tự với hình ảnh của bưu thiếp, và địa điểm của con dấu bưu chính đóng huỷ tem có tương quan đến hình ảnh con tem, kết hợp thành một vật phẩm bưu chính. Card Maximum do 3 yếu tố lớn là bưu thiếp, tem và con dấu bưu hợp thành, yêu cầu hình ảnh của bưu thiếp, hình ảnh của con tem và thông tin trên con dấu đóng huỷ tem cả 3 đều có sự nhất trí cao từ nội dung đến hình thức, phối hợp lẫn nhau, bổ sung cho nhau thành một chỉnh thể hữu cơ.

Maxicard bộ tem tết với bưu thiếp là tranh dân gian giấy dó Đông Hồ

Tem là dạng chính yếu của Card Maximum, tất nhiên phải là một bằng chứng thanh toán cước phí hữu hiệu (đủ tiền cước theo quy định của Bưu chính nhà nước), trong kỳ hạn đang phát hành và ngày đóng dấu huỷ tem càng gần với ngày phát hành đầu tiên càng tốt. Bưu thiếp là dạng chưa đựng, kích cỡ bưu thiếp tối đa là 148 mm x 105 mm, tối thiểu là 140 mm x 90 mm , hình ảnh trên mặt bưu thiếp không được nhỏ hơn 75% diện tích bưu thiếp. Con dấu bưu là dạng gắn liền, đóng dấu nhật ấn bưu chính, dấu bưu kỷ niêm, dấu bưu phong cảnh nói chung đều được nhưng ngày giờ trên con dấu đóng trên tem phải là trong thời hiệu con tem được phép phát hành.

Sự hình thành môn Sưu tập Tem và Tem bưu chính trở thành Tem chơi

Ngày nay, không chỉ trên thế giới mà ở cả Việt Nam, nhiều người đã biết thú sưu tập Tem. Sưu tập Tem đã thu hút hàng trăm triệu người trên hành tinh chúng ta. Theo thống kê thì sưu tập Tem là loại hình sưu tập chiếm số lượng người chơi đông nhất trong tất cả các loại sưu tập: tiền, đồng hồ, đồ cổ, tranh họa... Tuy nhiên, số người am hiểu về Tem bưu chính nói chung và Tem chơi nói riêng không nhiều.

Penny đen - Con tem đầu tiên trên thế giới

Khi mới ra đời vào năm 1840, Tem chỉ làm nhiệm vụ thanh toán cước phí bưu chính, làm tăng doanh thu bưu chính. Thời ấy, giao thông và thông tin còn khó khăn nên khi nhận được một lá thư là một niềm vui lớn, nhất là từ nước ngoài gửi tới. Phong bì có dán tem trở thành một kỷ vật được lưu giữ như báu vật. Lúc đầu, Tem được phát hành chủ yếu là tem phổ thông với số lượng in lớn, hình ảnh và màu sắc trên Tem không đẹp. Sau đó, do nhu cầu của bưu chính nên nhiều loại Tem khác nhau đã ra đời như Tem máy bay, Tem sự vụ, Tem thiếu cước, Tem phụ thu... Nhiều nước muốn giới thiệu hình ảnh đất nước mình trên những con Tem nên Tem ngày càng được thiết kế đẹp hơn, in ấn với kỹ thuật cao hơn.

Bộ tem "Hoa" của Ukraina - giải 3 Cúp Tem thế giới năm 2001
dành cho tem khối đẹp nhất thế giới - Một tác phẩm nghệ thuật

Một số người, trong quá trình sử dụng Tem, nhận thấy hình ảnh trên con Tem rất đẹp vì mỗi con Tem là một tác phẩm nghệ thuật thu nhỏ, có tính chất đồ họa đặc biệt, và sau một thời gian được dùng để gửi thư, những con Tem dần dần ít đi, trở thành của quý do nguyên tắc phát hành Tem thường không được tái bản. Vì vậy, họ để tâm tìm kiếm, cất giữ những con Tem mà họ quan tâm. Từ những nguyên nhân đó đã hình thành nên ý thức sưu tập Tem và dần dần phát triển thành phong trào sưu tập Tem rộng khắp như hiện nay.

Bên cạnh đó, ý thức sưu tập Tem còn được hình thành bởi con Tem có ý nghĩa về nhiều mặt như: giáo dục, tư tưởng, chính trị, văn hóa và kinh doanh. Qua việc sưu tập Tem, người sưu tập sẽ có được “một bộ bách khoa toàn thư” về mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, xã hội, đất nước, con người, phong tục tập quán, thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, truyền thống, khoa học kỹ thuật, thể thao...

Một người chơi tem đang nghiên cứu bộ sưu tập của mình

Năm 1841, phong trào sưu tập Tem xuất hiện tại Anh và nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới. Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) được thành lập ngày 09-10-1874 tại Thụy Sĩ; Liên đoàn Tem chơi Quốc tế (FIP) được thành lập ngày 26-6-1926 tại Paris (Pháp); Liên đoàn Tem chơi Châu Á - Thái Bình Dương (FIAP) được thành lập ngày 14-9-1974 tại Singapore. Hội Tem Việt Nam được thành lập ngày 30-12-1960.

Sưu tập Tem đòi hỏi người sưu tập phải có tính kiên trì tìm kiếm, tập hợp từng con Tem, bộ Tem và những vật phẩm bưu chính để tìm hiểu, nghiên cứu từ những chi tiết nhỏ nhất có liên quan đến chủ đề và sở thích của mỗi người.

Con tem "binh sỹ lá mạ" của Việt Nam, với vẻ bề ngoài bình thường,
ít ai nghĩ nó trị giá khoảng 100 USD trên thị trường hiện nay

Khi đã sưu tập Tem, mỗi khi xem bộ sưu tập của mình, dù đã hoàn chỉnh hay còn dở dang, người sưu tập luôn cảm thấy thú vị. Đó là những giây phút thư giãn, giải trí sau những giờ làm việc mệt nhọc, trăn trở và tìm tòi những cái hay, cái đẹp của con Tem. Với những con Tem quý hiếm, có giá trị cao thì việc sưu tập chúng tương tự như tiết kiệm tiền, tích lũy dần thành món tiền đáng kể.

Sưu tập Tem đang dần dần trở thành một đề tài khoa học được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Tem chơi rất đa dạng, phong phú và logic. Khi đã chơi Tem là ta bước vào một thế giới vô cùng rộng lớn vì mỗi người đều có quan điểm và sở thích khác nhau nên cách thức sưu tập, hình thức sưu tập, thể loại sưu tập cũng khác nhau.

Chơi tem là thú giải trí sau những giờ làm việc mệt nhọc

Vậy phân biệt Tem bưu chính và Tem chơi như thế nào? Có thể quan niệm rằng: tất cả các loại Tem bưu chính đều là Tem chơi nhưng không phải tất cả Tem chơi đều là Tem bưu chính vì Tem bưu chính luôn dùng để thanh toán cước phí bưu chính còn Tem chơi thì có thể có hoặc có thể không có chức năng này.

Sự ra đời của con tem bưu chính đầu tiên

Lịch sử Bưu chính thế giới đã ghi nhận hoạt động thư tín đã có từ thời cổ đại và là đặc quyền của giới vua chúa. Các Pha-ra-ông Ai Cập cổ đại đã sử dụng những sứ giả để chuyển tin khắp trong và ngoài lãnh thổ của mình. Thư tín trong thời kỳ này là những tấm đất sét có khắc chữ. Có thể nói người lính truyền tin chiến thắng từ Marathon về Aten vào năm 490 (trước công nguyên) là người bưu tá đầu tiên trong lịch sử.

Name:  01.jpg Views: 111 Size:  26.2 KB

Ở châu Âu, hoạt động bưu chính phát triển tương đối nhanh. Đặc biệt là tại nước Anh, vào thế kỷ 16, vua Henri VIII đã cử một viên quan chuyên coi sóc hoạt động Bưu chính. Năm 1661, Henry Bishop đã đưa ra sáng kiến sử dụng con dấu có khắc ngày, tháng, năm để đóng lên các bì thư tín nhằm theo dõi các tuyến thư.

Từ thế kỷ 17, một số nước ở châu Âu đã tổ chức chuyển thư của cơ quan và nhân dân. Người bưu tá chuyển thư và nhận tiền thanh toán cước phí từ người nhận thư. Phương pháp này gây nhiều phiền toái như: cước phí cao (người bưu tá phải đi ngựa hàng chục dặm để chuyển một bức thư), mất an ninh cho bưu tá.

Bưu chính Pháp và Anh có phương án: người gửi thư mua một phiếu dán vào bì thư rồi bỏ vào thùng thư. Bưu tá lấy thư, bóc lại phiếu và chuyển đi. Phương án này không được áp dụng lâu. Tuy vậy những phiếu dùng thời đó có thể được coi là "mẫu tem đầu tiên" và có giá trị sưu tầm rất cao. Những mẫu đó hiện chỉ còn trên văn bản ở bảo tàng.

Những đề xuất cải cách về bưu chính đã được hình thành từ ngay đầu thế kỷ 19 và đặc biệt là sự ra đời của con tem đầu tiên trên thế giới ra đời tại nước Anh ngày 06-5-1840 đã thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ bưu chính.

Đến thế kỷ 17, nước Anh mở đầu sự nghiệp bưu chính do nhà nước kinh doanh. Cho đến những năm 30 của thế kỷ 19, nước Anh vẫn thu lệ phí gửi thư theo số trang và cự ly vận chuyển của đường thư. Một bức thư từ Luân Đôn đến Scốt-len phải trả cước phí bằng tiền công nhật của một công nhân xây dựng đường sắt. Người dân bình thường không thể trả được giá cước đắt như vậy, cho nên người ta tìm mọi cách để giảm hoặc không trả cước. Ví dụ: có một thương nhân khéo léo viết nhiều bức thư lên một tờ giấy rồi gửi cho một người nhận, người đó lại cắt tờ giấy thành từng thư rồi trao cho người nhận thư ở cùng khu vực. Bởi vì thư đó là một tờ giấy nên chỉ phải trả cước của một bức thư và như vậy giảm cước phải nộp của người nhận thư.

Ngoài ra, những nghị sĩ của Nghị viện Anh được hưởng đặc quyền miễn trả cước thư tín. Họ chỉ cần ký tên mình trên bì thư là có thể gửi thư cho bất kỳ ai ở đâu mà người đó không phải trả cước. Những tệ hại trên đều do nước Anh để cho giá cước thư lên quá cao, và ngược lại làm cho thu nhập bưu chính nước Anh quá thấp.

Sir ROWLLAND HILL (1795 - 1879) là một nhà cải cách kiệt xuất. Ông quê ở Birmingham nước Anh, là một giáo viên dạy toán nhưng rất quan tâm đến hoạt động bưu chính.

Name:  02.jpg Views: 106 Size:  46.2 KB

Thời ấy, ở nước Anh còn lưu truyền một câu chuyện như sau: Năm 1888, Rowlland Hill đang đi chơi ở một vùng gần Luân Đôn, ông thấy một người phu trạm từ xa mang một phong thư đưa cho một cô gái. Cô gái cầm bức thư chỉ nhìn qua rồi trả lại người phu trạm và nói: “Xin lỗi tôi không có tiền, mong ông trả về người gửi”. Người phu trạm và cô gái lời qua tiếng lại. Ông đi tới, hỏi rõ tình hình rồi trả giúp cô gái bưu phí. Sau khi người phu trạm đi khỏi cô gái nói với ông rằng: “Bức thư này là của anh tôi gửi. Chúng tôi đã hẹn trước với nhau nếu bình yên vô sự thì đánh một dấu tròn ở bì thư, sau khi xem xong tôi biết anh ấy ở xa không xảy ra chuyện gì, khỏi phải trả cước. Thế là vừa có thông tin vừa không phải trả tiền”.

Name:  02b.jpg Views: 105 Size:  17.8 KBName:  03.jpg Views: 106 Size:  17.8 KB

Năm 1835, Rowlland Hill bắt đầu nghiên cứu vấn đề cải cách bưu chính nước Anh. Để tuyên truyền cho tư tưởng cải cách, năm 1837, ông cho xuất bản một quyển sách nhỏ mang tên “Cải cách bưu cục - tầm quan trọng và tính thực tiễn” (Post Office Reform It’s Importance and Practicability), trong sách này ông nêu ra một biện pháp cải cách là trong phạm vi vùng đất Anh và Bắc Ai-len, mọi thư tín không kể đường bưu xa gần mỗi thư nặng 1/2 ounce (14,2g) chỉ thu cước 01 Penny và phải trả trước bằng cách mua một bì thư đã có dấu hiệu trả cước để người gửi thư sử dụng.

Để thuận tiện cho người gửi không muốn dùng bì thư đã in dấu hiệu trả cước, bưu cục bán cho một mảnh giấy “in hoa”nhỏ để dán lên bì thư tự làm. Mảnh giấy “in hoa” nhỏ như một bông hoa, mặt sau có keo, chỉ cần làm ướt rồi dán lên bì thư. Rowlland Hill gọi mảnh giấy đó là “lá nhãn”(label), thực tế là con tem chúng ta dùng ngày nay.

Tháng 01-1837, Rowlland Hill viết thư cho một thành viên Chính phủ Anh đề xuất kiến nghị này nhưng kiến nghị bị Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu chính Anh kịch liệt phản đối. Sau đó, Rowlland Hill in quyển sách nhỏ này thành truyền đơn phát khắp nơi để tạo sự chú ý của dư luận. Quốc hội Anh sau nhiều lần thảo luận, cuối cùng tháng 8-1839 đã thông qua một đạo luật nổi tiếng là “Luật cước 01 Penny”(One Penny Act). Ngày 10-01-1840, nước Anh quyết định thực hiện kiến nghị của Rowlland Hill: không kể xa gần, mỗi bức thư nặng 1/2 ounce thu phí 01 Penny. Đó là chế độ cước bình quân 01 Penny có ảnh hưởng sâu rộng trên lịch sử bưu chính toàn thế giới. Để thực hiện kế hoạch cải cách bưu chính của Rowlland Hill, Bộ Tài chính (thời đó bưu cục ở Anh do Bộ Tài chính quản lý) đã mời ông về làm việc.

Name:  04.jpg Views: 108 Size:  58.5 KBName:  05.jpg Views: 104 Size:  34.4 KB

Hình bán thân của nữ hoàng Victoria nhìn nghiêng của ông William Weld được chọn để đưa lên tem. Đó là hình ảnh Nữ hoàng Victoria năm 18 tuổi (1837).

Name:  06.jpg Views: 106 Size:  55.0 KBName:  07.jpg Views: 106 Size:  24.9 KB

Tem 01 Penny Đen in hình Nữ hoàng Victoria để vừa thể hiện quyền uy của quốc gia vừa thể hiện sự nghiêm túc của một chứng khoán có giá mặt bằng tiền do nhà nước phát hành, khi in ấn đã áp dụng công nghệ in khắc tiên tiến nhất thường dùng để in tiền giấy của các nước ở Âu, Mỹ thời đó và in trên giấy có bóng mờ hình vương miện để chống làm giả. Phía trên tem ở giữa có chữ “Postage” (cước bưu), hai bên góc có hoa chữ thập, phía dưới tem, giữa là chữ “One Penny” (01 Penny). Tờ tem in chiều ngang 12 tem, chiều dọc 20 tem, tổng cộng 240 tem, giá mặt cả tờ vừa đúng 01 Bảng Anh. Để ngăn ngừa làm giả, mỗi tem có một bóng mờ vương miện trên giấy, phía dưới tem ở 02 góc có 02 chữ cái để đánh dấu. Những tem cùng hàng ngang, chữ cái ở góc trái giống nhau, những tem cùng hàng dọc, chữ cái ở góc phải giống nhau. Theo vậy mà đánh dấu.

Ví dụ: tem một là A-A, tem hai là A-B, tem ba là A-C... cho đến tem 12 là A-L. Theo hàng dọc góc trái cũng đánh dấu theo thứ tự A, B, C.... đến T, hàng dọc góc phải cũng thế. Vì hai chữ cái của mỗi tem đều được đánh dấu chuẩn xác theo quy luật như vậy nên có thể đoán định được vị trí của tem trong cả trang. Ví dụ: một tem ở góc dưới trái có chữ C, ở góc dưới phải có chữ D, thì con tem đó nằm ở hàng 3 và cột 4. Để tuyên truyền cho mọi người sử dụng tem, ở lề các tờ tem đều in dòng chữ “Mỗi tem giá 01 Penny, mỗi hàng có 12 tem giá 01 Shilling, mỗi tờ tem giá 01 Bảng Anh. Làm ướt lưng tem rồi dán lên bì thư, chú ý đừng làm mất lớp keo dán”. Thời đó chưa phát minh ra máy đục lỗ răng tem cho nên xung quanh con tem không có lỗ răng tem, phải dùng kéo cắt từng tem.

Name:  08.jpg Views: 106 Size:  21.6 KBName:  09.jpg Views: 102 Size:  48.7 KB
Nước Anh dự định ngày 10-01-1840 bắt đầu áp dụng cước bình quân 01 Penny, nhưng đến tháng giêng năm đó không chuẩn bị đủ bì thư và tem, cho nên tạm thời đóng dấu “đã thu cước” lên bì thư. Về nguyên tắc, ngày phát hành tem là 06-5-1840, nhưng có bưu cục đã bán tem từ ngày 01-5-1840. Con tem đầu tiên của thế giới đã ra đời như vậy.

Name:  10.jpg Views: 104 Size:  76.7 KB

Lúc đầu Rowlland Hill cho rằng đa số người gửi thư thích dùng bì thư của bưu cục đã in dấu thu cước, nhưng thực tế người ta thích mua tem hơn. Nhiều người thấy con tem có vẻ mới lạ, tiện sử dụng nên mua nhiều, kết quả là cung không đủ cầu. Công nhân in phải làm việc suốt ngày đêm mới đủ tem bán. Theo thống kê, từ ngày 01-5-1840 đến tháng 01-1841, chỉ trong hơn nửa năm mà tổng số tem phát hành là 30 vạn tờ, tức là 72 triệu con tem.

Name:  16.jpg Views: 104 Size:  23.8 KBName:  17.jpg Views: 102 Size:  18.3 KB

Tháng 02-1841, tem 01 Penny được in thành màu đỏ.

Name:  11.jpg Views: 103 Size:  21.8 KBName:  12.jpg Views: 99 Size:  86.0 KB
Name:  13.jpg Views: 97 Size:  50.4 KB

Sau khi con tem 01 Penny Đen phát hành được 2 ngày, con tem 02 Penny màu xanh cũng chính thức được phát hành.

Name:  14.jpg Views: 100 Size:  28.1 KBName:  15.jpg Views: 103 Size:  33.2 KB

Mẫu tem 01 Penny Đen được liên tục sử dụng trong 61 năm - tới năm 1901, khi nữ hoàng Victoria băng hà, mới bị thu hồi. Sau khi sử dụng tem 01 Penny Đen hơn một năm, tổng số lượng bưu kiện tăng lên gấp 3 lần.

Name:  18a.jpg Views: 99 Size:  26.3 KB

Để biểu dương sự cống hiến xuất sắc về cải cách bưu chính, Nữ hoàng Anh đã phong cho Rowlland Hill tước hiệu Hiệp Sĩ, mọi người vinh danh ông là “Cha đẻ con tem bưu chính”.

Name:  18.jpg Views: 97 Size:  42.4 KBName:  19.jpg Views: 98 Size:  84.3 KB


Tiếp theo nước Anh, Bra-xin bắt đầu sử dụng tem vào năm 1843; sau đó là Mỹ và Mauritius vào năm 1847; Pháp, Bỉ và Bavaria vào năm 1849; Áo, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ vào năm 1850; Đức và Đan Mạch vào năm 1852… Hầu hết các nước khác cũng bắt đầu sử dụng tem vào năm 1860. Như vậy là chỉ trong vòng 20 năm tem sau khi ra đời, tem bưu chính đã có mặt trên khắp thế giới.

Năm 1874, Hội nghị bưu chính đầu tiên trên thế giới gồm 22 nước quyết định thành lập Liên minh Bưu chính Thế giới (Universal Postal Union - UPU) nhằm thống nhất các hoạt động, đẩy nhanh tốc độ phát triển của dịch vụ bưu chính.

(sưu tầm & biên soạn )

Vương triều Lý (1009 - 1225) mở đầu 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Vị vua khai sáng vương triều Lý là Lý Công Uẩn (974 - 1028). Ông là người hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh), mẹ họ Phạm, sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974). Khi lên ba tuổi, mẹ ông đem ông cho sư Lý Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi và được đặt tên là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn đi tu từ đó. Ông thông minh và có chí khí khác người ngay từ nhỏ. Nhờ sự nuôi dạy của các nhà sư Lý Khánh Văn và Lý Vạn Hạnh - anh trai sư Lý Khánh Văn, Lý Công Uẩn trở thành người xuất chúng, văn võ kiêm toàn. Với sự bảo hộ của sư Vạn Hạnh, ông vào kinh đô Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê, thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ.


Sau khi Lê Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) mất, vào ngày Quý Sửu tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), triều thần tôn Lý Công Uẩn, khi đó mới 35 tuổi, lên ngôi Hoàng đế (Vua Lý Thái Tổ), lấy năm Canh Tuất (1010) làm năm đầu tiên của niên hiệu mới Thuận Thiên (có nghĩa là "thuận theo ý trời"), vẫn lấy Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự chủ và hưng thịnh của nước ta. Lúc này, nước ta đã trải qua hơn 100 năm độc lập dưới sự trị vì của các vua họ Khúc, Ngô, Đinh, Lê. Nền chính trị đã bước đầu ổn định, kinh tế ngày càng mở mang. Ngay từ khi lên ngôi, Vua Lý Thái Tổ đã sẵn có một cương thổ vững vàng, dân cư cần cù no ấm. Những chiến công oanh liệt từ thời Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng cùng những chiến thắng khác đã làm nền tảng vững chắc cho các đời Lý, Trần tiếp bước.


Đến lúc bấy giờ, Kinh đô Hoa Lư không còn phù hợp cho công cuộc mở mang hưng thịnh lâu bền, vì chỉ vẻn vẹn có 300 ha với 2 vòng thành có sông Hoàng Long chảy dọc tạo ra một hào nước tự niên, nên đã trở thành quá bé nhỏ. Ngay từ khi đăng quang, Vua Lý Thái Tổ đã đi tìm đất mới để tạo dựng một Kinh đô cho muôn đời sau. Trải qua những suy tư, nhà Vua đã dừng lại và chỉ tay xuống vùng đất Đại La (thuộc Hà Nội ngày nay), miền đất có thế “Rồng cuộn, hổ ngồi” (Chiếu dời đô) và nhận rằng: "Ngắm khắp đất nước Việt ta, duy đó là thắng địa, thật là nơi hội tụ quan yếu bốn phương, là thượng đô của kinh sư muôn đời”.


Tháng 7 năm 1010, Vua Lý Thái Tổ cho dời đô về thành Đại La. Quyết định rời bỏ hẳn một kinh đô từ vùng núi non hiểm trở ra vùng đồng bằng có thể cho thấy bản lĩnh và tầm nhìn của một vị vua khai sáng ra triều Lý và thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Một buổi sáng đẹp trời, thuyền vừa cập bến thành Đại La, nhà Vua thấy Rồng Vàng bay lên, do đó đổi tên là thành Thăng Long (có nghĩa là "rồng bay") và cho xây dựng kinh đô mới. Kinh đô Thăng Long được xây dựng thành hai khu riêng biệt: khu Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều, khu dân sự, nơi dân cư sinh sống thành phường nghề. Kinh thành được bao bọc bởi một tòa thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía tây, và sông Kim Ngưu ở phía Nam, là công trình xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam.


Dấu ấn Thăng Long thời kỳ này còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc: đền Đồng Cổ (xây năm 1028), chùa Diên Hựu - Một Cột (1049), tháp Báo Thiên (1057)… Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, Kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế, văn hóa lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước. Kỷ nguyên văn minh Đại Việt trong lịch sử Việt Nam cũng được mở ra từ đây.

Tranh thờ Ngũ Hổ

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hổ là con vật có sức mạnh thiêng liêng diệt trừ được ma quỷ. Đã từ lâu, hổ được tôn thờ và danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là “Ông Ba mươi” đầy uy linh, quyền kính. Hổ được dựng thành biểu tượng qua nhiều chất liệu của tạo hình: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy... có ở hầu khắp các công trình: đền, miếu, đình, lăng mộ… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhất qua nhiều thế hệ đó là tranh Ngũ Hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) ngày xưa. Không chỉ là một tác phẩm hội họa, tranh Ngũ Hổ còn ẩn chứa nhiều thông điệp của nền văn hóa cổ phương Đông.

Không bày trên bàn thờ gia tiên như những bức tranh ngũ quả, tranh Ngũ Hổ thường treo ở bàn thờ dành riêng cho “Ông Ba mươi”, dưới ban thờ thần thánh hoặc thờ Phật. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, tục thờ hổ bắt nguồn từ một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp, hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người. Do đó, con người thờ hổ.


Tranh Ngũ Hổ Hàng Trống có kích cỡ 0,55m x 0,75m. Tranh vẽ năm con hổ được bố cục đông đầy, cân đối trên mặt giấy. Mỗi con một dáng vẻ: con thì đứng, con thì ngồi, con cưỡi mây lướt gió... Từ những dáng hổ ngồi, hổ đứng, hổ cưỡi mây đến những ánh mắt, chòm râu, vẻ mặt, cùng khí thế toàn thân đều toát lên sức sống mãnh liệt của loài “chúa sơn lâm”. Đây là loại tranh khắc gỗ in trên giấy. Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bản nét rồi dùng bút lông tô màu. Để thổi hồn cho bức tranh, các nghệ nhân đặc biệt chú ý phối màu khi vẽ tranh ngũ hổ. Màu sắc trong tranh cũng phải lộng lẫy, uy linh, giống với những bức tranh khác của dòng tranh Hàng Trống, Ngũ Hổ được tạo bởi bản in những nét màu đen, sau đó người thợ sẽ dùng bút lông để tô màu.

Năm con hổ với những màu sắc khu biệt, rõ ràng nhưng lại rất uyển chuyển. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân đã vờn chuyển màu, tạo độ đậm, nhạt, sáng, tối khác nhau. Nên các nhân vật trong tranh không còn là mảng bẹt như cách thể hiện của các dòng tranh đương thời. Với bút pháp diễn tả ấy, các nhân vật đã “nổi khối”. Đồng thời với việc vờn chuyển diễn tả khối này, các nghệ nhân còn đi sâu vào việc phát huy khả năng diễn tả của nét. Cùng với những nét được khắc in qua bản gỗ, khi cần nhấn, đẩy các chi tiết, các nghệ nhân Hàng Trống không ngần ngại dùng bút để nẩy, tỉa. Với cách thức sáng tạo của riêng mình, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nên nét riêng cho dòng tranh, mà đã làm bật lên sức sống nội tại của nhân vật. Điều này người xem rất dễ dàng nhận thấy thông qua các nhân vật hổ: những khối thân chắc khỏe, những dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong đặc biệt những chiếc đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn vồng lên để đập xuống đất mà bật chồm lên. Và những con mắt hổ hừng hực nội lực của loài mãnh chúa.

Màu sắc trong tranh Ngũ Hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh. Nhưng nó vẫn được khu biệt với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm nhân vật. Lối dùng màu này của các nghệ nhân Hàng Trống thể hiện rõ một hàm ý, mang triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống:


Hoàng Hổ tướng quân: Con hổ ngồi chỉnh trện giữa tranh được vẽ vờn bằng màu vàng là tượng trưng cho hành Thổ, ứng với trung ương chính điện.


Thanh Hổ tướng quân: Con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông.


Bạch Hổ tướng quân: Con hổ được vẽ bằng màu trắng là tượng trưng cho hành Kim, ứng với phương Tây.


Xích Hổ tướng quân: Con hổ được vẽ bằng màu đỏ là tượng trưng cho hành Hỏa, ứng với phương Nam.

Hắc Hổ tướng quân: Con hổ được vẽ bằng màu đen là tượng trưng cho hành Thủy, ứng với phương Bắc.

Như vậy 5 nhân vật hổ, được thể hiện bằng 5 màu: đỏ, đen, vàng, xanh, trắng, mang một ý nghĩa tượng trưng cho Ngũ hành. Quan niệm cách thể hiện hình, màu mang tính ước lệ, tượng trưng này trong nghệ thuật dân gian xưa là rất phổ biến.

Qua Ngũ Hổ, các nghệ nhân muốn phản ánh những thông điệp huyền bí mang tín ngưỡng dân gian. Từ ánh mắt, hướng quay mặt, từ cách đặt chân của 5 con hổ trong tranh đều mang những thông điệp theo thuyết Ngũ hành.

Bức tranh hội đủ 5 sắc màu tượng trưng của Ngũ hành, tương ứng với từng thế, dáng của hổ. Ngồi uy nghi giữa tranh là ông hổ màu vàng, xung quanh là 4 ông với 4 màu sắc khác nhau, đỏ, xanh, trắng, đen. Theo thuyết Âm dương Ngũ hành thì hành Thổ là sự quy tàng của bốn hành kia trong chu kỳ vận động của Ngũ hành. Đó là nguyên nhân cho việc tạo màu trong tranh thờ Ngũ Hổ, là nguyên nhân để hổ vàng đứng giữa và lớn hơn cả. Việc bố trí màu sắc của từng con hổ xung quanh hổ vàng cũng không phải là vô tình. Nếu như trong tranh Ngũ Hổ của làng tranh Đông Hồ, màu sắc của 5 con hổ được bố trí theo quan hệ tương khắc, thì Ngũ Hổ của Hàng Trống lại thể hiện sự tương sinh giữa các hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.


Trên đầu hổ vàng, dưới mặt trời đỏ rực rỡ có 7 chấm trắng là hình tượng của chòm Đại hùng tinh. Chân hổ vàng trấn lên một miếng phù có ghi “pháp đại uy nỗ”. Hai bên hổ vàng: bên phải có 5 thanh kiếm, bên trái có 5 lá cờ lệnh. Hình ảnh của cờ lệnh và kiếm trong tranh Ngũ Hổ thể hiện sức mạnh của thiên nhiên trong quy luật vận động của vũ trụ và sự tương tác với trái đất. Hỗ trợ cho khí phách của ngũ hổ là những đám mây vần vũ huyền ảo được vẽ ở phía trên và phía dưới là 2 tảng núi cách điệu đối xứng cho 2 ngài hổ đứng.

Nhiều người còn cho rằng: nhìn 5 “Ông Ba mươi”, gợi cho người xem cảm giác về một lá bùa chú. Cũng có ý kiến cho rằng “Ngũ Hổ” thể hiện sự xum vầy đầy đủ vì thế treo tranh Ngũ Hổ cảm thấy yên tâm vì được che chở.

Ngày 25-11-1971, Bưu chính Việt Nam phát hành bộ tem "Tranh Ngũ Hổ (Hàng Trống - Hà Nội)" do họa sĩ Trần Lương thiết kế, gồm 5 mẫu và một bloc. Bloc tem này cũng được coi là con tem lớn nhất của Việt Nam.